Không nên quy định xác nhận tình trạng hôn nhân trong đăng ký hộ tịch
Đại biểu Trần Nhật Minh cho biết, tại phiên thảo luận Tổ mới đây, đại biểu đã phát biểu về nội dung bổ sung "tình trạng hôn nhân" vào đăng ký hộ tịch quy định tại điểm e, khoản 1 Điều 3 dự thảo Luật. Theo đó, đại biểu đề nghị nghiên cứu không quy định nội dung đăng ký hộ tịch về thông tin này, vì tình trạng hôn nhân của cá nhân về cơ bản đã được ghi nhận và được tích hợp vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch, thống nhất sử dụng trên toàn quốc...
Theo đại biểu, ý kiến trên đã được cơ quan soạn thảo giải trình khá đầy đủ tại Báo cáo tiếp thu, giải trình bước đầu ý kiến của các ĐBQH trong phiên thảo luận tại Tổ đối với dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi).
Tuy nhiên, theo giải trình của cơ quan soạn thảo, bản chất của việc xác nhận tình trạng hôn nhân là việc cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện xác nhận về tình trạng hôn nhân của một cá nhân để cấp văn bản xác nhận theo yêu cầu. Trong thực tiễn hiện nay, đây là một loại giấy tờ nhằm cung cấp những thông tin về cá nhân để bảo đảm việc thực hiện một số giao dịch dân sự và đăng ký hộ tịch. Theo Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có thời hạn sử dụng trong 6 tháng kể từ ngày cấp và chỉ có một mục đích sử dụng đã ghi trong giấy xác nhận.
Do đó, về mặt pháp lý, loại giấy tờ này không có ý nghĩa là sự kiện xác định tình trạng nhân thân và không có giá trị sử dụng lâu dài (thậm chí đi theo cá nhân cả cuộc đời) như các loại giấy tờ hộ tịch khác như Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn hay văn bản xác nhận về nhân thân khác. Trong khi đó, các thông tin về tình trạng hôn nhân (như kết hôn, ly hôn hay hủy hôn trái pháp luật) có thể khai thác trong hệ thống Cơ sở dữ liệu hộ tịch theo quy định tại Điều 8 dự thảo Luật về nguyên tắc đăng ký hộ tịch, khai thác, chia sẻ dữ liệu hộ tịch.
Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo cho rằng: đối với trường hợp hôn nhân thực tế, cơ quan đăng ký hộ tịch phải thực hiện kiểm tra, xác minh để khẳng định người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thuộc trường hợp hôn nhân thực tế theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình (trường hợp này không có thông tin trong Cơ sở dữ liệu) để cấp văn bản xác nhận.
Tuy nhiên, theo đại biểu Trần Nhật Minh, ý kiến giải trình này chưa phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về hôn nhân... Cụ thể, theo khoản 1 Điều 3 của Luật này, “hôn nhân” là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Theo quy định này, trường hợp nam, nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng không phải là hôn nhân; trường hợp này theo khoản 7 Điều 3 của Luật được gọi là “chung sống như vợ chồng”, chứ không phải là hôn nhân thực tế.
Do đó, theo đại biểu, việc xác nhận tình trạng hôn nhân để áp dụng đối với trường hợp chung sống như vợ chồng cũng không phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình về hôn nhân.
Từ phân tích trên, đại biểu Trần Nhật Minh tiếp tục giữ nguyên ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc không quy định nội dung đăng ký hộ tịch về thông tin tình trạng hôn nhân tại điểm e, khoản 1 Điều 3 dự thảo luật nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật, đồng thời cắt giảm thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dịch dân sự, đăng ký hộ tịch, đồng thời giảm áp lực công việc cho cán bộ cơ sở.
Làm rõ quy định đăng ký khai tử, tránh phát sinh giấy tờ không cần thiết
Liên quan đến đăng ký khai tử, đại biểu Trần Nhật Minh cho biết: Dự thảo Luật quy định nội dung đăng ký khai tử bổ sung thêm loại giấy tờ chứng minh sự kiện chết tại điểm b, khoản 4 Điều 20 còn thiếu rõ ràng, chung chung, không nêu rõ được tính pháp lý của loại giấy tờ này, cụ thể là do cơ quan nào có thẩm quyền cấp.
Theo đại biểu, quy định này, nếu có, thì có phù hợp với những trường hợp người chết ở nhà do bệnh tật, già yếu mà không cần hoặc không có các cơ quan có thẩm quyền xác nhận (ví dụ như cơ sở y tế, pháp y) hay không?
Do đó, đại biểu đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ quy định này để tránh thêm việc người dân phải cung cấp giấy tờ không cần thiết, gây khó khăn, phiền hà cho cơ sở và người dân khi thực hiện việc đăng ký khai tử.
Đại biểu Trần Nhật Minh cũng đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa đổi quy định này theo hướng mở, bổ sung cụm từ “(nếu có)” vào cuối điều luật để áp dụng đối với những trường hợp chết tại cơ sở khám, chữa bệnh hoặc chết do tai nạn, rủi ro, do bị tác động từ bên ngoài… do cơ quan y tế hoặc pháp y xác nhận.
Theo đó, điểm b, khoản 4 Điều 20 được đề nghị sửa lại như sau: "Thông tin về sự kiện chết: Thời gian chết; nơi chết; nguyên nhân chết (nếu có); giấy tờ chứng minh sự kiện chết (nếu có)”.



