Sáng 11/4, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI thảo luận tại hội trường về các dự án: Luật Hộ tịch (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý.
Không quy định nội dung đăng ký hộ tịch về thông tin tình trạng hôn nhân
Thảo luận vào dự án Luật Hộ tịch (sửa đổi), đại biểu Trần Nhật Minh - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An đề nghị không quy định nội dung đăng ký hộ tịch về thông tin tình trạng hôn nhân tại Điểm e, Khoản 1, Điều 3 dự thảo luật.
Đại biểu cho rằng, tình trạng hôn nhân của cá nhân đã được ghi nhận và tích hợp vào cơ sở dữ liệu hộ tịch, thống nhất sử dụng trên toàn quốc. Đây cũng là một ý kiến được nêu trong báo cáo thẩm tra của Ủy ban Pháp luật và Ủy ban Tư pháp của Quốc hội và đã được cơ quan soạn thảo giải trình khá đầy đủ.
Thảo luận lại với ý kiến giải trình của cơ quan soạn thảo, đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng, theo giải trình của cơ quan soạn thảo thì bản chất của việc xác nhận tình trạng hôn nhân là việc cơ quan đăng ký hộ tịch thực hiện xác nhận về tình trạng hôn nhân của một cá nhân để cấp văn bản xác nhận theo yêu cầu.
Theo Nghị định 123 ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch, thì giấy xác nhận tình trạng hôn nhân chỉ có thời hạn sử dụng trong 6 tháng kể từ ngày cấp và chỉ có một mục đích sử dụng đã ghi trong giấy xác nhận. Do đó, về mặt pháp lý, nó không có giá trị sử dụng lâu dài, thậm chí là đi theo cá nhân suốt cả cuộc đời như các loại giấy tờ hộ tịch khác.
Trong khi đó, các thông tin về tình trạng hôn nhân như kết hôn, ly hôn hay hủy hôn nhân trái pháp luật có thể khai thác trong hệ thống cơ sở dữ liệu hộ tịch theo quy định tại Điều 8 dự thảo luật về nguyên tắc đăng ký hộ tịch, khai thác và chia sẻ dữ liệu hộ tịch.
Bên cạnh đó, cơ quan soạn thảo cho rằng, đối với trường hợp hôn nhân thực tế, cơ quan đăng ký hộ tịch phải thực hiện kiểm tra, xác minh để khẳng định người yêu cầu xác nhận tình trạng hôn nhân thuộc trường hợp hôn nhân thực tế theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình; trường hợp này không có thông tin trong cơ sở dữ liệu để cấp văn bản xác nhận.
Theo đại biểu Trần Nhật Minh, ý kiến giải trình này chưa phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về hôn nhân. Bởi vì, theo Khoản 1, Điều 3 của Luật Hôn nhân và Gia đình về giải thích từ ngữ quy định thì: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn. Theo quy định này, trường hợp nam nữ tổ chức cuộc sống chung và coi nhau là vợ chồng không phải là hôn nhân.
Từ thực tế đó, đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng, việc xác nhận tình trạng hôn nhân để áp dụng đối với trường hợp chung sống như vợ chồng cũng không phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
Từ những phân tích trên, đại biểu đề nghị tiếp tục giữ nguyên ý kiến đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, cân nhắc không quy định nội dung đăng ký hộ tịch về thông tin tình trạng hôn nhân nhằm bảo đảm tính thống nhất của pháp luật. Đồng thời, cắt giảm thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong các giao dịch dân sự, đăng ký hộ tịch và giảm áp lực công việc cho cán bộ ở cơ sở.
Về đăng ký khai tử, đại biểu Trần Nhật Minh cho rằng, dự thảo quy định nội dung đăng ký khai tử thêm loại giấy tờ chứng minh sự kiện chết tại Điểm b, Khoản 4, Điều 20 còn thiếu rõ ràng, chung chung, không nêu rõ được tính pháp lý của loại giấy tờ này, cụ thể là do cơ quan có thẩm quyền nào cấp.
Hơn nữa, quy định này nếu có thì có phù hợp với những trường hợp người chết tại nhà do bệnh tật, già yếu... mà không cần hoặc không có cơ quan có thẩm quyền xác nhận hay không, gây khó khăn, phiền hà cho cơ sở và người dân khi thực hiện việc đăng ký khai tử.
Đại biểu Trần Nhật Minh đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu sửa đổi quy định này theo hướng mở là bổ sung cụm từ "nếu có" vào cuối điều luật để áp dụng đối với những trường hợp chết tại cơ sở khám, chữa bệnh hoặc chết do tai nạn rủi ro, do bị tác động từ bên ngoài... và cơ quan y tế hay cơ quan pháp y sẽ xác nhận điều này.
Bổ sung quy định về quyền cho công chứng viên
Phát biểu thảo luận vào dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công chứng, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang - Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An bày tỏ thống nhất cao với quan điểm xây dựng dự án luật.
Phạm vi sửa đổi lần này cũng phù hợp với quan điểm xây dựng luật. Theo đó, chỉ nên tập trung tháo gỡ những khó khăn vướng mắc từ thực tiễn và tập trung những vấn đề thực sự cần thiết, vì Luật Công chứng 2024 mới có hiệu lực từ ngày 1/7/2025.
Từ thực tiễn quản lý nhà nước về công chứng ở địa phương, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang báo cáo và kiến nghị Quốc hội 4 nội dung nhằm tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn hiện nay.
Đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng, cần phải có sự thống nhất về nhận thức giữa công chứng và chứng thực. Đây là hai hoạt động khác biệt về bản chất pháp lý.
Công chứng là dịch vụ công, xác nhận tính xác thực, tính hợp pháp của giao dịch và đảm bảo ý chí tự nguyện và năng lực hành vi của các bên tham gia; kiểm soát nội dung và phòng ngừa các vi phạm pháp luật cũng như bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch.
Trong khi đó, chứng thực chỉ là hoạt động chủ yếu do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện để xác nhận bản sao có đúng với bản chính hay không, chữ ký có đúng là chữ ký của người này hay không và xác nhận về thời gian, địa điểm, chủ thể tham gia giao dịch; không xem xét và không chịu trách nhiệm về nội dung hay tính hợp pháp của văn bản cũng như các giao dịch.
Mặc dù văn bản công chứng và chứng thực đều có giá trị chứng cứ, không phải chứng minh (điều này đã được quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự). Nhưng xét cho cùng, văn bản công chứng sẽ có giá trị chứng cứ mạnh hơn cả về hình thức cũng như nội dung; bảo vệ sâu hơn về bản chất, nhất là đối với các giao dịch phức tạp.
Từ nhận thức đó, đại biểu Hoàng Thị Thu Trang cho rằng, cần xây dựng các quy định về phạm vi giao dịch phải công chứng rõ hơn, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên phải cao hơn và nên giữ các quy định về tăng cường giám sát việc thực hiện quy định chuyển giao thẩm quyền chứng thực từ UBND cấp xã sang các tổ chức hành nghề công chứng, với quan điểm lấy lợi ích của người dân và doanh nghiệp làm trung tâm như Nghị quyết 66 của Bộ Chính trị.
Đồng thời, đại biểu đề nghị Chính phủ rà soát để sửa đổi Nghị định 23/2015 về chứng thực cũng như các văn bản liên quan theo hướng thu hẹp phạm vi chứng thực và tăng cường xã hội hóa hoạt động chứng thực. Có nhiều giải pháp hơn nữa để hạn chế tình trạng lạm dụng yêu cầu chứng thực đối với bản sao, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm chi phí tuân thủ pháp luật cho người dân và doanh nghiệp.
Về quyền của công chứng viên là người được Nhà nước ủy quyền thực hiện dịch vụ công mà chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp, không trái với đạo đức xã hội của các giao dịch, chịu trách nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản và chịu trách nhiệm hành chính, kỷ luật, thậm chí là hình sự đối với các giao dịch nếu có sai phạm hoặc thiệt hại do lỗi của mình.
Tuy nhiên, theo đại biểu Trang, tại Điều 18 của Luật Công chứng 2024 quy định quyền của công chứng viên chưa đủ mạnh để hành nghề, nhất là trong xác minh tính hợp pháp của giao dịch. Điều này dẫn đến 1 trong 3 tình huống: Công chứng viên vẫn công chứng nhưng tiềm ẩn sai phạm và tranh chấp lừa đảo. Công chứng viên từ chối công chứng do sợ sai. Công chứng viên yêu cầu người công chứng thực hiện thêm nhiều thủ tục, cung cấp thêm nhiều giấy tờ rất rườm rà và tốn kém. Dù là tình huống nào thì người bị ảnh hưởng chính là người dân và doanh nghiệp.
Để khắc phục tình trạng trên, ĐBQH Hoàng Thị Thu Trang đề nghị cần bổ sung quy định về quyền cho công chứng viên tương xứng với vai trò cũng như trách nhiệm.
Như là, bổ sung quyền yêu cầu các cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin chứ không phải là đề nghị; quyền truy cập cơ sở dữ liệu dân cư và đất đai (có thể là mất phí); quyền miễn trách nhiệm đối với các giao dịch sai phạm mà công chứng viên đã thực hiện hết trách nhiệm, đúng quy định pháp luật rồi mà không cố ý.



