Hiện đại hóa kỹ thuật nuôi để nâng hiệu quả sản xuất

Những năm trước, người nuôi lươn thường phụ thuộc vào các bể bạt truyền thống, bên trong thả đất hoặc thân cây bắp để tạo môi trường trú ẩn. Cách làm này tồn tại nhiều hạn chế: nguồn giống không kiểm soát, môi trường ô nhiễm nhanh, thức ăn dễ hòa tan gây lãng phí, dịch bệnh bùng phát khiến tỷ lệ sống thấp. Chính từ nhu cầu đổi mới quy trình chăn nuôi, mô hình lươn không bùn bắt đầu xuất hiện và nhanh chóng chứng minh tính ưu việt nhờ cơ chế kiểm soát nước, chủ động vệ sinh và sử dụng thức ăn công nghiệp đồng đều.

Chính quyền địa phương xã văn kiều thăm mô hình nuôi lươn của anh Trương Văn TRung 1

Tại xã Văn Kiều, mô hình của anh Trương Văn Trung là minh chứng rõ nét cho sự thay đổi đó. Năm 2024, sau khi tìm hiểu và học hỏi kỹ thuật ở các mô hình trong và ngoài tỉnh, anh mạnh dạn vay ngân hàng gần 1,5 tỷ đồng để xây dựng một hệ thống nuôi lươn quy mô lớn. Toàn bộ khu trại gồm 8 bể nuôi lươn mẹ sinh sản, 36 bể ươm lươn giống và 8 bể nuôi lươn thương phẩm, được thiết kế theo lối khép kín, kết hợp các thiết bị máy xay cám viên, máy ấp trứng và hệ thống cấp thoát nước tự chảy.  Điều kiện thuận lợi nhất của gia đình anh Trung chính là mạch nước ngầm tự chảy quanh năm, chất lượng đảm bảo, không cần xử lý bằng điện hay hóa chất. Nhờ nguồn nước ổn định, anh xây dựng được quy trình nuôi lươn mẹ sinh sản bán tự nhiên: tạo hang bằng xô, xốp, gạch dưới lớp bèo tây che phủ; phía đáy bể có lớp bùn dày giúp lươn tái hiện môi trường sinh sản tự nhiên.

Bể lươn sinh sản được trải bằng lớp bèo tây nhằm tạo môi trường tự nhiên cho lươn nuôi

Nhờ làm chủ kỹ thuật, trứng cho tỷ lệ nở cao. Chỉ sau 1–2 tháng, lươn giống đạt cỡ ăn cám viên, sẵn sàng xuất bán. Với giá thị trường khoảng 34 triệu đồng/vạn con giống (size 500 con/kg), mỗi năm anh Trung bán ra 15–20 vạn, sau khi trừ mọi chi phí, gia đình anh thu khoảng 300–400 triệu đồng. Lươn giống của anh được các trang trại trong vùng ưa chuộng vì khỏe mạnh, không phải thuần lại như giống nhập từ miền Nam. Song song với đó, hệ thống 8 bể nuôi thương phẩm mỗi năm cung cấp khoảng 4,5 tấn lươn thịt ra thị trường. Anh Trung chia sẻ kinh nghiệm: “Yếu tố quyết định thành công của mô hình chính là công nghệ kiểm soát nước và môi trường nuôi. Tôi lót gạch men toàn bộ bể, kết hợp hệ thống thay nước tự động và sục khí từ 20 giờ tối đến 5 giờ sáng để đảm bảo hàm lượng oxy luôn ổn định. Vi sinh được tạt định kỳ giúp diệt khuẩn, giảm ô nhiễm và hạn chế mầm bệnh. Giá thể bằng lưới được treo trong bể tạo nơi trú ẩn tự nhiên cho lươn nhưng dễ vệ sinh, giảm tồn dư bùn thải”.

Hiệu quả đó cũng là những điều anh Nguyễn Sỹ Quảng ở xã Xuân Sơn đang theo đuổi khi quyết định lập nghiệp bằng mô hình nuôi lươn khép kín. Sau chuyến tham quan các mô hình do Trung tâm Khuyến nông tỉnh tổ chức, anh nhận thấy tiềm năng rõ rệt của mô hình lươn không bùn: dễ chăm sóc, vốn đầu tư không quá lớn nhưng hiệu quả kinh tế cao. Thời gian đầu vào nghề, thiếu kinh nghiệm khiến anh Quảng chịu nhiều thiệt hại: lươn chết, dịch bệnh phát sinh, kỹ thuật chưa vững. Nhưng với tinh thần kiên trì, anh không ngừng học hỏi, tham gia tập huấn và dần làm chủ toàn bộ quy trình. Điều đặc biệt ở mô hình của anh chính là sự chủ động trong khâu con giống. Thay vì mua giống từ nhiều nguồn, anh thiết kế khu nuôi lươn bố mẹ bán tự nhiên, thu trứng và ấp bằng kỹ thuật nhân tạo, sau đó đưa lươn bột vào bể ươm và nuôi thương phẩm. Nhờ đó, anh vừa đảm bảo chất lượng giống, vừa giảm chi phí đầu vào tới 30–40%. Chỉ sau hơn một năm, diện tích nuôi của anh mở rộng từ 140 m² lên 300 m². Sản lượng năm đầu cho ra hàng tấn lươn thịt và hàng chục vạn con giống, đem lại thu nhập gần 300 triệu đồng. Nhờ ứng dụng đúng kỹ thuật, tỷ lệ lươn sống cao, tốc độ lớn nhanh, nhiều hộ dân trong vùng đã tìm đến học hỏi và cùng phát triển mô hình, tạo nên vùng nuôi lươn tập trung bước đầu hình thành.

Tạo sinh kế bền vững, góp phần làm mới cơ cấu vật nuôi

Điều dễ nhận thấy nhất ở các mô hình trên là sự đồng hành của khoa học kỹ thuật trong toàn bộ quá trình nuôi. Trong môi trường mật độ cao, nguồn nước quyết định sống còn của lươn. Vì vậy, các hộ đều duy trì chế độ thay nước 2 lần/ngày, kết hợp hệ thống sục oxy để tránh tình trạng thiếu dưỡng khí, nguyên nhân dẫn đến chết rải rác trong các mô hình cũ. Lươn được nuôi bằng thức ăn công nghiệp có độ đạm phù hợp từng giai đoạn, vừa giúp chúng phát triển đồng đều, vừa giảm tình trạng nước ô nhiễm do thức ăn tươi tan nhanh. Giá thể bằng lưới là một trong những kỹ thuật được áp dụng rộng rãi, thay thế hoàn toàn lớp bùn trong bể truyền thống.

Nuôi lươn không bùn bằng hệ thống tuần hoàn nước

Nhờ đó, người nuôi dễ quan sát, hạn chế được ký sinh trùng, đồng thời thuận lợi trong việc vệ sinh bể sau mỗi chu kỳ nuôi. Mô hình cũng tận dụng tốt nguồn tài nguyên địa phương, không đòi hỏi diện tích lớn, phù hợp những hộ dân có quỹ đất vừa phải. Việc nuôi lươn thương phẩm và lươn giống song song còn mở ra hướng phát triển kinh tế khép kín, nâng cao giá trị sản phẩm và tăng tính cạnh tranh. Ông Tạ Quang Sáng – Giám đốc Trung tâm Khuyến nông nhận định: "Nuôi lươn không bùn là một trong những mô hình phù hợp nhất với điều kiện nông thôn hiện nay. Ưu điểm lớn nhất là dễ kiểm soát dịch bệnh, chi phí đầu tư vừa phải và có thể áp dụng công nghệ tuần hoàn nước để tăng mật độ nuôi. Trung tâm Khuyến nông đang định hướng nhân rộng mô hình này, hỗ trợ kỹ thuật từ khâu sản xuất giống đến nuôi thương phẩm, nhằm hình thành các vùng nuôi tập trung và tạo sản phẩm hàng hóa bền vững".

Xét về hiệu quả kinh tế, mô hình nuôi lươn không bùn tạo thu nhập ổn định và cao hơn so với nhiều vật nuôi khác. Một hộ nuôi lươn quy mô trung bình mỗi năm có thể thu lãi từ 200–400 triệu đồng, tùy sản lượng giống và thương phẩm. Đây là mức thu nhập vượt trội so với chăn nuôi truyền thống, vốn gặp nhiều rủi ro về dịch bệnh và chi phí thức ăn tăng cao. Sự phát triển của nghề nuôi lươn cũng tác động tích cực đến chuyển đổi cơ cấu vật nuôi tại địa phương. Nhiều xã đã đưa lươn vào nhóm vật nuôi chủ lực, khuyến khích người dân tham gia mô hình để tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. Không chỉ đóng góp vào thu nhập hộ gia đình, mô hình còn tạo nguồn giống tại chỗ, giảm phụ thuộc thị trường bên ngoài, từ đó giúp các khu vực nông thôn chủ động hơn trong phát triển sinh kế. Đồng chí Chu Bá Long, Bí thư Đảng uỷ xã Văn Kiều cho biết: "So với cách nuôi truyền thống, mô hình lươn không bùn của anh Trung thể hiện rõ tính khoa học, giảm hẳn rủi ro về dịch bệnh, kiểm soát tốt chất lượng nước và chủ động được nguồn giống. Đây là mô hình dẫn dắt để bà con học theo, góp phần quan trọng vào mục tiêu chuyển đổi cơ cấu vật nuôi của xã trong quá trình phát triển kinh tế tại địa phương".