Những năm tháng tuổi trẻ nhiệt thành
Ông Nguyễn Thi, tốt nghiệp khóa đầu Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, nguyên Quyền Giám đốc Sở Giao thông – Công chính Hà Nội, có lần nói với tôi rằng: trong dòng họ Nguyễn Hữu ở làng Trung Cần thời hiện đại, nếu không kể ông Nguyễn Hữu Khang (tốt nghiệp Tiến sĩ Luật khoa tại Pháp trước năm 1945) thì ông Nguyễn Hữu Dụng – em thứ ba của ông Khang – là người có hiểu biết rộng và có nhiều đóng góp cho lĩnh vực giáo dục – đào tạo cách mạng.
Làng Trung Cần, xã Nam Trung trước đây (nay là xã Thiên Nhẫn, tỉnh Nghệ An) vốn được biết đến là vùng đất có truyền thống khoa bảng. Bên cạnh các dòng họ lớn như Nguyễn Trọng, họ Lê, dòng tộc Nguyễn Hữu được coi là nổi danh từ thế kỷ XVIII–XIX với nhiều tên tuổi như Thám hoa Nguyễn Văn Giao, Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập, Phó bảng Nguyễn Tư Tái… Ông Nguyễn Hữu Dụng (1917–2006) là con trai thứ của cụ cử nhân Nguyễn Hữu Thành (1880–1920) và là cháu nội của Hoàng giáp Nguyễn Hữu Lập – vị quan đại thần triều Tự Đức, từng làm Chánh sứ sang Trung Quốc trong các năm 1871–1872.
Thuở thiếu thời, ông Dụng theo học chữ Hán với các thầy đồ trong làng và vùng Tổng Nam Kim xưa; sau đó hoàn thành chương trình Primaire tại Trường Pháp – Việt huyện lỵ Nam Đàn. Nhờ tư chất thông minh, nhanh nhạy, ông được gia đình cho ra Hà Nội theo học tại Trường tư thục Thăng Long. Trong môi trường học tập mới, được trực tiếp thụ giáo các thầy Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Phan Bôi (Hoàng Hữu Nam) và Võ Nguyên Giáp, không lâu sau, Nguyễn Hữu Dụng đã tham gia các phong trào yêu nước.
Khởi đầu là nhóm thanh niên dân chủ trong các trường học khu vực Hà Nội giai đoạn 1936–1939. Hoạt động chủ yếu của Đoàn Thanh niên phản đế lúc bấy giờ là đấu tranh đòi quyền lợi dân sinh, dân chủ và phản đối chính sách khủng bố, đàn áp của thực dân Pháp. Nhận thấy ông thành thạo tiếng Pháp, các đàn anh như Võ Nguyên Giáp, Phan Bôi đã phân công ông tham gia Ban Biên tập, tổ chức bài vở cho tờ báo Notre Voix (Tiếng nói của chúng ta). Cùng với các tờ Tin tức, Thời thế, Bạn dân, Le Travail, nhiều bài viết của các cây bút chủ lực như Trường Chinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Huy Liệu, Hoàng Quốc Việt… thường xuyên được đăng tải nhằm giác ngộ quần chúng; đả kích, vạch trần những âm mưu và thủ đoạn nham hiểm của thực dân và tay sai, đồng thời, động viên, khích lệ các tầng lớp Nhân dân đoàn kết đấu tranh vì tự do và quyền sống.
Cuối năm 1939, đầu năm 1940, Nguyễn Hữu Dụng được bổ sung vào Ban Chấp hành Thanh niên phản đế và được Đảng phân công làm nhiệm vụ tuyên truyền, gây dựng cơ sở cách mạng tại Hà Nội và các vùng lân cận như Hà Đông, Sơn Tây. Năm 1943, trước yêu cầu mới của cách mạng, theo chỉ đạo của Đảng, ông được chuyển vào hoạt động bí mật tại khu vực Sài Gòn – Gia Định, bên cạnh đồng chí Lý Chính Thắng (khi đó đang phụ trách Hội Công nhân cứu quốc).
Tháng 6 năm 1945, ông Nguyễn Hữu Dụng được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam và cùng đồng chí Lý Chính Thắng, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch trực tiếp tổ chức quần chúng công – nông vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền tại khu vực Sài Gòn – Gia Định trong đêm 24 rạng sáng 25 tháng 8 năm 1945.
Tuy nhiên, đất nước giành độc lập chưa được bao lâu, thực dân Pháp đã có những hành động muốn chiếm nước ta một lần nữa. Trước tình thế sản xuất đình trệ do hậu quả chiến tranh, ngân khố quốc gia trống rỗng, hơn 90% dân số mù chữ, các thế lực phản động trong và ngoài nước ra sức chống phá… Vận mệnh dân tộc lúc bấy giờ thực sự ở vào tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phải ký Hiệp định Sơ bộ ngày 6/3/1946 và Tạm ước ngày 14/9/1946 với Chính phủ Pháp, nhượng bộ cho Pháp một số quyền lợi về kinh tế và văn hóa ở Việt Nam trong sách lược hòa hoãn để bảo toàn lực lượng. Song ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới; buộc Chủ tịch Hồ Chí Minh phải ra lời hiệu triệu “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Cùng với Hà Nội, quân và dân khắp ba miền Bắc, Trung, Nam đã chung sức đồng lòng đứng lên “Toàn quốc kháng chiến” vào đêm 19/12/1946 – mở đầu cho cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp thắng lợi.
Đúng thời điểm này, ông Nguyễn Hữu Dụng được Trung ương điều động ra chiến khu Việt Bắc, đảm nhiệm cương vị Thường vụ Trung ương Đoàn Thanh niên cứu quốc, phụ trách công tác tuyên giáo. Trong điều kiện địa bàn hoạt động rộng lớn, bốn bề là rừng núi, sông suối, đèo dốc, lại thiếu thốn trăm bề, những năm 1947–1950, ông vẫn cùng đồng chí Nguyên Lam và các cán bộ thanh vận miệt mài tuyên truyền, vận động quần chúng tại các địa bàn Tân Trào, Hồng Thái, Đèo De, Đại Từ, Định Hóa, Yên Sơn…, góp phần đẩy mạnh phong trào “diệt giặc dốt”, “cày cấy giỏi”, phụ nữ cứu quốc, thanh niên sẵn sàng tham gia dân quân, bộ đội….
Gắn bó với ngành giáo dục
Sau Chiến thắng Biên giới năm 1950, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước xã hội chủ nghĩa. Những tiến bộ về kinh tế, tài chính và ngoại giao đưa dân tộc ta bước vào thời kỳ mới vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, điều đó cũng đòi hỏi các lĩnh vực, ngành nghề phải có những biến chuyển mới. Tháng 7/1950, Hội đồng Chính phủ triệu tập hội nghị và chính thức thông qua Đề án cải cách giáo dục, xác định mục tiêu xây dựng nền giáo dục của dân, do dân, vì dân.
Từ năm 1951 đến năm 1959, ông Nguyễn Hữu Dụng được Trung ương phân công phụ trách Nha Giáo dục Khu Việt Bắc. Để phù hợp với hoàn cảnh kháng chiến, hệ thống giáo dục được tổ chức lại: chương trình phổ thông từ 12 năm rút xuống 9 năm, chia thành ba cấp (cấp 1: 4 năm; cấp 2: 3 năm; cấp 3: 2 năm). Việt Bắc là địa bàn rộng lớn với đặc điểm địa hình núi rừng, sông suối chia cắt; Nhân dân các dân tộc lại đang phải tập trung nguồn lực cho cuộc kháng chiến lâu dài. Hoạt động của mọi ngành nghề, trong đó có giáo dục ở khu Việt Bắc cũng phải tổ chức sao cho phù hợp với hoàn cảnh bấy giờ.
Kế thừa và phát triển quan điểm của các bậc đàn anh và nhà sư phạm nổi tiếng Nguyễn Lân, ông Nguyễn Hữu Dụng cùng tập thể lãnh đạo xác định nhiệm vụ cấp bách là phải dồn sức "thu hẹp" số người mù chữ còn cao trong đồng bào các dân tộc. Nha Giáo dục Khu Việt Bắc đã tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ ngắn hạn để mở rộng các trường, lớp bình dân học vụ tại Phú Thọ, Thái Nguyên, Tuyên Quang…, đồng thời từng bước xây dựng mạng lưới trường phổ thông cấp 1, cấp 2 ở những địa bàn có điều kiện.
Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ "Nên vành hoa đỏ nên thiên sử vàng", miền Bắc nói chung trong đó có khu Việt Bắc hoàn toàn được giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội. Ông Nguyễn Hữu Dụng tiếp tục "bám trụ" cùng các đồng nghiệp triển khai và thực hiện những chủ trương, quyết sách của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh về lĩnh vực văn hóa, giáo dục đối với địa bàn dân tộc miền núi. Một mặt ông chỉ đạo các cơ sở giáo dục Việt Bắc đẩy mạnh phong trào xóa mù chữ trong đồng bào các dân tộc thiểu số bằng các loại hình trường lớp bình dân học vụ, bổ túc văn hóa, mặt khác phát triển mạng lưới trường phổ thông cấp 1, cấp 2 và trường cấp 3 ở các trung tâm tỉnh lỵ. Song song xây dựng các mô hình trường thiếu nhi dân tộc, trường sư phạm miền núi. Trong bối cảnh thiếu giáo viên trầm trọng, Nhà nước và Bộ Giáo dục đã có chính sách đưa giáo viên từ các tỉnh, thành như Hà Nội, Hà Tây, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình... lên công tác tại các tỉnh Việt Bắc và Tây Bắc. Theo con số thống kê chưa đầy đủ trong hai năm 1959 - 1960 đã có hơn 1000 trường hợp thầy, cô giáo miền xuôi lên "gieo cái chữ" nơi địa bàn miền núi vùng cao... Hoàn thành nhiệm vụ với bản tính tận tụy và khiêm nhường, ông Nguyễn Hữu Dụng chia tay vùng đất "chiến khu gió ngàn"- nơi từng gắn bó nhiều năm để trở về Hà Nội trong vai trò Vụ trưởng Giáo dục phổ thông (Bộ Giáo dục). Nhưng giữa những năm 60 của thế kỷ trước, khi phong trào cách mạng miền Nam đang diễn ra quyết liệt, người con sinh ra trên mảnh đất Xô Viết - Nghệ Tĩnh lại sẵn sàng nhận lệnh lên đường trong tâm thế chẳng hề do dự, thiệt hơn.
Lần thứ hai trở vào Nam
Mùa thu năm 1964, chiến lược "chiến tranh đặc biệt" do đế quốc Mỹ "giật dây" cho ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn thất bại. Đầu năm 1965, Mỹ tiến hành đổ quân vào miền Nam, mặt khác thực hiện chiến tranh phá hoại bằng không quân ở miền Bắc. Đây cũng là thời điểm ông Nguyễn Hữu Dụng nhận lệnh của Trung ương và ngành Giáo dục, rời Hà Nội, để lại vợ và các con thơ ở hậu phương, lên đường vào tiền tuyến lớn miền Nam. Gần ba tháng trời, họa hoằn có đoạn được đi xe (nhờ xe tải bộ đội), còn phần lớn ông Dụng và nhóm cán bộ tăng cường cùng chiếc gậy vượt núi băng rừng, trèo đèo lội suối để vào điểm "tập kết" của Trung ương Cục miền Nam. Với cương vị Trưởng Tiểu ban Giáo dục, ông Nguyễn Hữu Dụng đã cùng các cộng sự Phan Văn Cường, Chu Đình Băng, Lê Văn Lý làm nhiệm vụ tham mưu cho Trung ương Cục, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam về đường lối giáo dục chung của toàn miền. Đồng thời tổ chức biên soạn tài liệu, đào tạo đội ngũ cán bộ, giáo viên, mở các lớp phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh cách mạng.
Với phương châm "Dân bám đất, giáo dục bám dân, giáo viên bám trường lớp", ông Lê Văn Lý (nguyên Bí thư Đảng ủy Học viện Hồ Chí Minh) nhớ lại: Nhiệm vụ chủ yếu của giáo dục miền Nam trước giải phóng 1975 là tập trung bảo vệ thầy trò, giữ vững và phát triển trường lớp ở vùng giải phóng, coi trọng phong trào bình dân học vụ, đồng thời phát triển giáo dục phổ thông ở nơi có điều kiện. Tiểu ban cũng tổ chức lực lượng ở vùng tranh chấp; gây ảnh hưởng ra vùng ven nhằm ngăn chặn nền giáo dục ngoại lai của địch để xây dựng nền giáo dục dân tộc, dân chủ và tiến bộ. Sau tổng tấn công mùa xuân Mậu Thân (1968), đặc biệt là sau hội nghị giáo dục tháng 3/1971, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Tuyên huấn Trung ương Cục, Tiểu ban Giáo dục Miền, trực tiếp là ông Tư Dụng (đồng sự vẫn gọi thân mật) nhận thấy những khả năng mới và nhân tố mới mà đề ra những trọng tâm và phương châm hoạt động giáo dục cho cả ba vùng (vùng giải phóng, vùng tranh chấp và vùng tạm chiếm). Xác định giáo dục phải tham gia "đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào" như lời Bác Hồ căn dặn, nên Tiểu ban Giáo dục Miền đã quán triệt cho cán bộ, nhân viên ngoài công tác chuyên môn còn phải tích cực đấu tranh chống văn hóa, giáo dục nô dịch; biết vận động giáo chức, sinh viên vùng đô thị ủng hộ và đi theo nền giáo dục yêu nước cách mạng. Những thắng lợi vang dội của Việt Nam trên chiến trường làm thất bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của Mỹ; nhất là chiến công của quân và dân Hà Nội đập tan mưu đồ "Đưa Việt Nam trở về thời kỳ đồ đá" bằng rải thảm B52 cuối năm 1972 đã buộc đế quốc Mỹ phải ký Hiệp định Paris về "chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam" (ngày 27/01/1973). Từ vùng chiến khu Đông Nam Bộ, Tiểu ban Giáo dục Miền do ông Nguyễn Hữu Dụng phụ trách nhận lệnh di chuyển về vùng ven Sài Gòn nhằm chuẩn bị cho những chủ trương và kế hoạch mới trong khí thế phát triển mạnh mẽ của phong trào cách mạng.
Ông Lê Văn Lý, nguyên Chánh Văn phòng Tiểu ban Giáo dục thời ấy nhớ lại: Từ Củ Chi, ông Tư Dụng cùng chúng tôi chỉ đạo vừa tiếp tục duy trì và phát triển giáo dục ở các địa bàn đã gây dựng, mặt khác tổ chức tiếp nhận và điều tiết nguồn cán bộ, giáo viên từ miền Bắc chi viện, tăng cường để khi có thời cơ đỡ bị động. Nhờ vậy, sau thời điểm chiếc xe tăng của quân giải phóng húc đổ cánh cổng dinh Độc Lập (trưa 30/4) thì tối hôm đó ông Tư Dụng và các thành viên Tiểu ban Giáo dục đã khẩn trương di chuyển vào khu Sài Gòn - Gia Định để ngay hôm sau tiến hành tiếp quản hệ thống giáo dục từ chế độ chính quyền cũ. Chỉ trong một thời gian ngắn, dưới sự chỉ đạo của Bộ Giáo dục từ miền Bắc và Ban Tuyên huấn Trung ương Cục miền Nam, Tiểu ban Giáo dục đã hoàn thành việc tiếp quản Ty Giáo dục Sài Gòn và Ty Giáo dục Gia Định, để sau đó hợp nhất thành Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh. Sài Gòn hoàn toàn giải phóng. Miền Nam đã sạch bóng quân thù, nhưng hàng loạt công việc đang đặt ra cần giải quyết. Ông Tư Dụng cùng các đồng sự tất bật với công tác quản lý cơ sở vật chất các trường (trong đó ông chịu trách nhiệm chính ở Đại học Văn khoa Sài Gòn); thống kê danh sách đội ngũ giáo chức dưới chế độ cũ và tổ chức các lớp học chính trị giúp họ tiếp nhận các quan điểm, đường lối của chế độ mới. Ai có chuyên môn tốt, không có biểu hiện tư tưởng đối lập thì vẫn được bố trí vào các vị trí quản lý, lãnh đạo. Một trong những vấn đề có tính cấp bách và lâu dài là hệ thống giáo dục nhiều năm giữa hai miền có sự khác nhau, cho nên Tiểu ban Giáo dục Miền phải tập trung trí tuệ, sức lực bàn tính và thực hiện chủ trương ổn định nền giáo dục thống nhất toàn quốc. Theo đó những vấn đề thuộc về nội dung chương trình, đội ngũ giáo viên cũ và mới, phương pháp giảng dạy đều phải được xử lý một cách hòa hợp, nhân văn... Sau gần hai năm cùng đồng nghiệp hoàn thành những nhiệm vụ trên, ông Nguyễn Hữu Dụng được điều động trở ra Hà Nội với vai trò là Thứ trưởng Bộ Giáo dục. Trên cương vị này, ông được phân công phụ trách ngành Giáo dục các tỉnh từ Quảng Trị trở vào. Cứ nghĩ làm việc tiếp mấy năm rồi nghỉ hưu, nhưng năm 1979 với sự hỗ trợ của quân tình nguyện Việt Nam, dân tộc Campuchia thoát khỏi “họa diệt chủng” của Pôn Pốt; ông Dụng tuổi ngoài 60 lại lên đường với tư cách Trưởng đoàn chuyên gia sang Phnom Penh giúp tái thiết “hồi sinh” nền Giáo dục Campuchia. Đến năm 1982, khi bước sang tuổi 65, ông được nghỉ hưu theo chế độ. Ghi nhận những công lao đóng góp của ông Nguyễn Hữu Dụng đối với sự nghiệp cách mạng, Đảng và Nhà nước ta đã trao tặng ông Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều phần thưởng cao quý khác. Phát huy những phẩm chất tốt đẹp của tiền nhân, hiện nay, nhiều thế hệ con cháu của ông Nguyễn Hữu Dụng, với trình độ học vấn và tri thức vững vàng, đang tiếp tục đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.



