ƯỚC HẸN CÒN LƯA

 

Giữa tiết xuân lãng đãng, tôi chợt nghe vẳng lại từ cõi mờ sương nào đó tiếng sóng vỗ thì thầm của đại dương bao la; và len lỏi trong tiếng sóng dạt dào ấy, kỳ lạ thay, lại là âm ba của một dòng sông hiền hòa mang màu nước vắt nửa mình sang dải đất miền Trung. Tôi nhớ về nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ.

Ông đã rời bỏ cõi trần gian đầy dâu bể này để bước lên chuyến đò không dĩ vãng vào ngày mười một tháng Giêng âm lịch cách đây vừa tròn bốn năm. Trong giáo lý nhà Phật, âm thanh là thứ dễ khơi gợi sự tỉnh thức nhất, nhưng cũng là hiện thân rõ nét nhất của quy luật thành - trụ - hoại - không. Một nốt nhạc cất lên, ngân vang, rồi ngay lập tức tan vào khoảng không tĩnh lặng. Vậy nhưng, có những nốt nhạc dẫu đã tắt lịm ngoài kia, dư ba của nó vẫn còn thao thiết vỗ mãi vào bến bờ tâm thức.

 

Những người nghệ sĩ lớn mang trong mình hồn cốt thiêng liêng của quê hương, họ có bao giờ thực sự rời đi đâu? Giọt nước bốc hơi thành mây trắng, dạo chơi trên vòm trời bao la, hóa thành cơn mưa tưới mát cho trần gian, chảy tràn xuống những dòng sông để rồi thong dong tìm về đại dương mênh mông. Nguyễn Tài Tuệ không mất đi. Ông hóa thân vào sương, vào khói, vào nắng quái chiều hôm xứ Nghệ. Và trên hết, ông tan vào điệu Ví, câu Giặm - thứ phù sa mầu mỡ đã nuôi dưỡng nên vóc dáng tâm hồn nhạc sĩ. Ông “trở về” với Đạo Quê Hương, một con đường rợp bóng ca dao, một dòng chảy miên viễn của âm thanh mà ở đó, Ví Giặm chính là kinh cầu nguyện hằng ngày.

Nguyễn Tài Tuệ sinh ra ở Thanh Chương. Mùa hè, gió Lào quạt lửa cháy rát mặt người, vắt kiệt những giọt mồ hôi mặn chát rơi xuống luống cày đang há miệng chờ mưa. Mùa đông, bão lụt triền miên xé nát những bình yên bé mọn. Nước từ ngàn Hống, ngàn Trươi cuồn cuộn dâng lên tàn phá xóm làng. Đất đai cằn cỗi đến mức hạt lúa gieo xuống cũng phải nhọc nhằn nhón gót, ứa máu mới nảy mầm lên được. Không chỉ được dung dưỡng bởi đất trời khắc nghiệt, tâm hồn ông còn được bồi đắp bởi nếp nhà Nho phong nghiêm cẩn như chính ông thừa nhận qua bài viết “Cha tôi - người cho tôi cốt cách”. Chính cái "cốt cách" thâm trầm, trọng tình nghĩa mà người cha truyền lại đã định hình nên một Nguyễn Tài Tuệ luôn đĩnh đạc, bản lĩnh giữa thời cuộc.

Sống trên mảnh đất ấy, mang trong mình cốt cách trượng phu ấy, chao ôi, con người ta không thể hát những khúc ca ẻo lả hay mộng mơ phù phiếm. Tiếng hát cất lên từ đất này phải được vắt ra từ mồ hôi, từ nước mắt, từ sức vươn lên mãnh liệt. Điệu Ví thì vút cao, chơi vơi khao khát thoát khỏi sự tù túng của phận người. Còn câu Giặm lại trắc trắc, kiên định như bước chân trần đạp sỏi đá đi tới.

Ví Giặm là hơi thở. Cái ngôn ngữ của xứ Nghệ vốn dĩ đã mang trong mình một nhạc tính kỳ lạ. Những thanh âm trắc bằng đan xen, những dấu hỏi dấu ngã bị uốn cong bởi gió nóng. Khi được phổ vào âm nhạc, nó không trôi tuột đi như những ngôn ngữ bóng bẩy. Nó neo lại, nó cào xé, nó găm vào lòng người nghe một thứ tình cảm vướng vít không thể nào gỡ bỏ. Nó đi vào huyết quản Nguyễn Tài Tuệ từ lúc ông còn nằm nôi, qua tiếng ru hời à ơi của mẹ, qua âm thanh kẽo kẹt của khung cửi đêm thâu, qua tiếng gõ mạn thuyền lanh canh trên dòng sông nước xanh như ngọc. Tự thuở ấu thơ cho đến khi mái đầu điểm tuyết sương, ông đã tắm gội trong bầu khí quyển nhiệm màu ấy. Và gương mặt đẹp nhất, chân thật nhất của âm nhạc Nguyễn Tài Tuệ, vĩnh viễn là hồn cốt dân ca xứ Nghệ.

Tôi thắp một ngọn nến, pha một ấm trà hoa vàng Quế Phong, nhắm mắt lại và lắng nghe giai điệu của "Xa khơi".

“Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bờ anh ơi…”.

Phép đảo ngữ như một hơi thở nhẹ, đưa ta vào một không gian tràn ngập ánh nắng. Nhưng rồi, hai chữ "đôi bờ" hiện lên như một nỗi đau thầm kín của thời đại. 

Cái tài của Nguyễn Tài Tuệ là ở chỗ ông "lãng mạn hóa" những gì đời thường nhất. Ai đời trong một bản tình ca bác học lại đưa cả "con nục, con măng" vào? Ấy vậy mà chúng lại đẹp lạ kỳ. Những sinh vật nhỏ bé ấy cứ "tung tăng" giữa hai miền, như một lời nhắc nhở rằng: mây vẫn bay, cá vẫn bơi, và lòng người không gì ngăn cách được. Biển của ông là "biển chung tình", là nơi để "gửi giùm bao ngày thương nhớ". Ngôn ngữ ở đây không còn là những danh từ khô khan, nó đã hóa thành nhịp chèo "khoan giọng hò", hóa thành tiếng sóng vỗ vào mạn thuyền tâm tưởng. 

Kìa biển rộng con nục con măng, lướt sóng liệng đôi bờ tung tăng”.

Một chữ thôi, khi đặt vào đúng chỗ, lại có thể làm cả một không gian bừng sang. Nhạc sĩ kể mình đã mất rất nhiều công sức để tìm thấy chữ "liệng".

Thử nhắm mắt lại, chữ "liệng" ấy không chỉ là cái vẫy đuôi của cá. Nó vẽ nên một đường cong tuyệt mỹ, khâu liền hai bờ non sông. Đó là sự "Hợp" giữa cái tình của người và cái ý của trời đất. Khi ngôn ngữ đạt đến độ thấu cảm ấy, ngôn ngữ hóa thành phép màu.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ bên cây đàn cũ kỹ và bản nhạc Xa khơi bất hủ

Năm 1958, người thanh niên Nguyễn Tài Tuệ đã có chuyến đi thực tế vào vĩ tuyến 17. Đứng bên bờ Bắc sông Bến Hải, phóng tầm mắt ra biển Cửa Tùng, ông đã thu vào cõi lòng trọn vẹn hơi thở cuộn trào của biển Đông, và cả nỗi quặn thắt khi tận mắt chứng kiến cảnh giang sơn xé đôi. Cảm xúc ấy lặn sâu vào tâm thức, ấp ủ ròng rã nhiều năm trời. Để rồi khi đang đi công tác ở vùng đồi núi Hòa Bình - một nơi mịt mù sương ngàn gió núi - nỗi nhớ biển khơi bỗng cựa mình, thôi thúc ông trút trọn vẹn khát vọng thống nhất lên khuông nhạc để hoài thai ra "Xa khơi".

Sự "tương tức" nhiệm màu mà minh triết phương Đông nhắc tới, chính là ở đây! Ngồi giữa điệp trùng non cao đồi vắng để họa hình một đại dương bão giông. Khoảng cách vật lý xa xôi từ núi rừng Hòa Bình vọng về vĩ tuyến càng đẩy khát vọng đoàn tụ dồn nén đến tột cùng. Ông không vẽ biển bằng đôi mắt trần tục, ông vẽ biển bằng hồn. Và vùng biển trong "Xa khơi", thực chất, chính là dòng sông Lam được phóng chiếu qua lăng kính của nỗi khát vọng thống nhất non sông.

“Nắng tỏa chiều nay, chiều tỏa nắng đôi bờ anh ơi…

Gió lộng buồm mây, ớ ơ ơ... ơ ơ ơ... khơi dạt dào biển gọi...”

Nghe câu hát vút lên, ta thấy rợp ngợp cả một không gian mênh mang của biển cả bao la. Nhưng tinh ý một chút, ta sẽ nhận ra cái điệu ớ ơ ơ luyến láy ấy, nó đâu phải là tiếng của sóng biển Đông ồn ã? Nó chính là tiếng ru hời bên bến sông Lam, là âm ba của hò Cửa Lò, hò Nhượng Bạn, là tiếng võng đong đưa cọt kẹt trưa hè ở một làng quê nghèo miệt Thanh Chương, Nam Đàn. Nguyễn Tài Tuệ đã làm một phép phù thủy âm nhạc: Ông lấy cái tĩnh lặng, sâu thẳm của dòng sông quê hương để đo đếm cái mênh mông, cuộn trào của biển lớn. Ông dùng cái chất giọng rền, vang, luyến láy mang đậm tính tự sự của điệu đò đưa Ví Giặm để nói lên khát vọng đoàn tụ của cả một dân tộc đang chịu cảnh Bắc Nam đôi bờ.

Trong "Xa khơi", cấu trúc âm nhạc mang dáng dấp của những bản Romance thính phòng cổ điển. Nhưng linh hồn lại mặc chiếc áo tứ thân mộc mạc đẫm mồ hôi của dân ca Nghệ Tĩnh. Sự tài tình, bậc thầy của người nhạc sĩ ở chỗ, ông không "nhại" lại dân ca. Ông không bê nguyên xi một điệu Ví hay một câu Giặm gắn vào ca khúc của mình như người ta dán một bông hoa nhựa lên bức tường bê tông vô hồn. Không, ông chọn câu Ví Giặm chưng cất thành tinh dầu, rồi ướp vào từng nốt nhạc. Ông uống dân ca vào lòng, để nó ngấm vào máu thịt, rồi từ đó hoài thai nên những giai điệu mới mang tên Nguyễn Tài Tuệ. Sự ảnh hưởng của Ví Giặm trong tác phẩm của ông giống như mùi hương của hoa dạ lan hương đọng lại trong sương đêm. Ta không thể đưa tay ra nắm bắt được hình hài của hương thơm, nhưng ta biết nó hiện hữu, thấm đẫm, bao trùm và làm ta say đắm quên lối về.

Hiểu được ngọn nguồn ấy, ta mới biết vì sao một người rặt chất Nghệ, mang trong mình dòng máu đục ngầu phù sa song Lam lại có thể viết "Mùa xuân gọi bạn", "Tiếng hát giữa rừng Pác Bó", hay "Suối Mường Hum còn chảy mãi" vút lên nghe lảnh lót như tiếng khèn của người Mông gọi bạn tình chênh vênh trên vách đá, nghe róc rách trong vắt như tiếng suối của người Tày, người Nùng giữa rừng vầu rừng nứa.

Nghệ thuật có một chân lý: Khi anh đi đến tận cùng của cái riêng, anh sẽ gặp trúng cái chung của nhân loại. Khi Nguyễn Tài Tuệ chạm đến tận đáy sâu thẳm nhất của tâm hồn quê mình qua điệu Ví Giặm, ông đã tìm thấy chiếc chìa khóa vạn năng để mở tung cánh cửa đi vào tâm hồn của muôn vàn dân tộc anh em khác. Cái nghẹn ngào, cái luyến láy của Ví Giặm chứa đựng trong nó sự tần tảo, lòng khao khát yêu thương và nhẫn nại của những con người lấm láp. Tình cảm ấy thì người Kinh hay người Tày, người Thái hay người Mông đều có chung một cội rễ.

Bằng trái tim nhạy cảm đã được bồi đắp bởi những câu hát Ví Giặm, ông dễ dàng đồng điệu, thấu cảm sâu sắc với mọi âm giai của núi rừng. Cấu trúc giai điệu có thể thay đổi, khoác lên mình điệu Then, điệu Sli rộn rã, nhưng cái cốt cách Nguyễn Tài Tuệ cất giấu ẩn sâu bên trong thì vẫn muôn đời bất biến: thâm trầm, da diết, triết lý và bám chặt lấy lòng đất Mẹ. Sự thấu cảm ấy là một rung động không còn biên giới. Nhạc của ông, vì thế, dẫu mượn thanh âm muôn phương, tột cùng vẫn là tiếng nói của một tâm hồn đã giác ngộ được cái Đẹp của tình quê.

Ví Giặm dạy cho người con quê mình biết cách chắt lọc. Đất nghèo nên không có gì thừa thãi, lời ca điệu ví cũng dồn nén đến tận cùng cảm xúc, không có chỗ cho những uốn éo giả tạo hay dông dài vô nghĩa. Nhạc của Nguyễn Tài Tuệ không hề đồ sộ về số lượng nếu đem so sánh với nhiều người cùng thời, nhưng mỗi tác phẩm ông gửi lại cho đời đều là một đỉnh núi sừng sững, được đắp bồi bằng thứ kỷ luật khắc nghiệt và lòng tận hiến. Với ông, dưới ảnh hưởng sâu sắc từ nếp nghĩ nho học của người cha, sáng tác là một cuộc tu tập. Mỗi nốt nhạc viết ra là một bước chân chánh niệm đi về phía chân thiện mỹ. Ông tốn hàng năm trời thai nghén, gạch xóa, nâng lên đặt xuống, chỉ sợ làm tổn thương đến cái hồn phách thiêng liêng mà tiền nhân đã gửi gắm trong dân ca.

Trong những năm tháng chạng vạng của kiếp người, khi mái tóc đã bạc như mây mùa đông, ông viết "Mơ quê", như một lời từ tạ thiết tha cất lên từ tận cùng đáy tim.

Nguyễn Tài Tuệ đã mất 14 năm để viết đi viết lại ba lần mới hoàn thiện được Mơ quê.

Lần đầu, ông viết về "nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn", lời ca chân chất lắm nhưng còn "khô". Lần thứ hai, ông tự thấy viết mờ ảo quá, thiếu cái gốc rễ. Đến lần thứ ba, ông mới ngộ ra: quê hương là "Mơ". Khi ta "Mơ", ta thấy được cái hồn cốt vĩnh cửu của làng quê qua "mái đình xưa", "hoa gạo đỏ rực trời" và "tiếng trống hội làng". 

“Hỏi câu ví giặm có lỡ hẹn cùng ai chăng. Mà thương câu Kiều đã lỗi hẹn cùng trăng xưa”.

Ông ngẫm về "lỗi hẹn". Đó là nỗi đau, nỗi khắc khoải của người trí thức luôn lo sợ những báu vật của cha ông bị thời gian vùi lấp. Câu Kiều, điệu Ví giờ đây không còn là văn chương hay âm nhạc nữa, chúng đã trở thành thân phận, thành máu thịt của người dân xứ Nghệ.

“Chấp chới cánh cò, chao chát ngõ buồn - Mưa nắng đè lên phận gầy thôn nữ - Khói bếp rạ vờn bay từ mái lá - Mùi bùn non, hương lúa ngậm đòng đòng...”

Xót xa và trần trụi quá đỗi! Âm hưởng Ví Giặm hiện hình nguyên thủy, lam lũ, cào xé tâm can. Đó là bài ví giặm của một kẻ xa quê, trọn đời mang "án chung thân" với nỗi nhớ nhà. Ở điểm cuối của cuộc đời, âm nhạc của ông hóa thành tiếng nấc nghẹn ngào của một đứa trẻ đầu hai thứ tóc ngóng về quê mẹ. Quê hương, đến lúc ấy, không còn là một vùng địa lý xa xôi cách trở, mà đã trở thành bến giác để linh hồn ông nương náu, an trú.

Và rồi, ở câu hát khép lại bài Mơ Quê - khúc vĩ thanh của đời mình - nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ giữ lại một chữ “lưa”: “Ước hẹn còn lưa”.

Trong thổ âm cằn cỗi, mặn mòi của người châu Hoan, "lưa" là còn lại, là hãy còn đó dẫu bãi bể nương dâu. Nhưng đặt trong nốt nhạc của Nguyễn Tài Tuệ ở chặng cuối kiếp nhân sinh, bốn chữ "Ước hẹn còn lưa" không đơn thuần là một hoài niệm hay tiếng thở dài tiếc nuối. Nó là bản di chúc của tâm hồn, là lời thệ nguyện thiêng liêng và son sắt nhất mà ông đã ký thác với điệu Ví, câu Giặm và mảnh đất quê hương.

Cả một đời viễn xứ, mang “án chung thân” với nỗi nhớ quê nhà, sự nghiệp âm nhạc của Nguyễn Tài Tuệ thực chất là một cuộc hành hương mải miết để giữ trọn vẹn lời ước hẹn ấy. Lời ước hẹn gìn giữ báu vật của cha ông để không bao giờ "lỗi hẹn cùng trăng xưa". Lời ước hẹn chưng cất cái lam lũ, trắc trắc, nhọc nhằn của đất mẹ thành những vòm âm thanh sang trọng, vút bay trên bầu trời tân nhạc. Lời hứa của một nghệ sĩ tha thiết với nền văn hiến quê hương mình.

Chương trình “Mạch nguồn ví, giặm” tưởng nhớ và tri ân năm cố nhạc sĩ quê Nghệ An: Nguyễn Văn Tý, Nguyễn Tài Tuệ, Hồng Đăng, Nguyễn An Thuyên, Nguyễn Trọng Tạo

Ngoài hiên, sương tháng Giêng giăng mắc một lớp mỏng manh lên những cành lộc vừng vừa nhú mầm xanh. Đêm qua, hẳn đã có vài chiếc lá lìa cành chao nghiêng trong gió lạnh. Tiếng rơi của lá thanh thản vô cùng, bởi lá biết mình rụng về cội là để dâng hiến vóc dáng cho rễ, cho thân nảy mầm lộc mới. Sự ra đi của Nguyễn Tài Tuệ cũng vậy, là một cuộc hóa thân miên viễn. Cái Đẹp tối thượng của vũ trụ là cái Đẹp vô ngôn. Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ, sau một kiếp tằm rút ruột nhả tơ, đã vắt kiệt mình đi đến tận cùng của thế giới hữu thanh trĩu nặng nhân gian để bước vào cõi tĩnh lặng tuyệt đối của tâm hồn.

Nhưng sự tĩnh lặng ấy hoàn toàn không phải là hư vô. Trái lại, đó là nơi tiếng hát quê hương dội về đằm sâu và mãnh liệt nhất. "Ước hẹn còn lưa" nghĩa là giữa Nguyễn Tài Tuệ, non nước xứ Nghệ và điệu Ví, câu Giặm chưa bao giờ có một cuộc chia ly. Thể phách ông dẫu đã nương theo mây trắng phiêu diêu về nẻo trời vô tận, nhưng khối ân tình trĩu nặng với đất mẹ thì vĩnh cửu bám rễ ở lại.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ chia sẻ với nhà báo Nguyễn Như Khôi về việc làm thế nào để kế thừa, phát huy và phát triển ví giặm xứ Nghệ - di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại

Trong tâm thức tôi, đâu đó giữa hư không đại thiên thế giới, nhạc sĩ vẫn đang mỉm cười thong dong bước đi trên con đường của những nốt nhạc vô ngã, hai vai gánh đầy dòng sông Lam và câu Ví Giặm. Trăng xưa dẫu có khuyết, thời gian dẫu phôi pha, ông đã hóa thân trọn vẹn thành điệu Ví, câu Giặm, tuôn chảy qua những doi cát nắng rát gió Lào, tưới mát cho mảnh đất nghèo nuôi hi vọng nảy mầm.

Vâng! Chuyến đò đưa ông đi dẫu đã khuất nẻo mù khơi, nhưng với non nước ân tình xứ Nghệ, với những phận người chao chát lam lũ, hình bóng người nghệ sĩ và bản thệ nguyện với dân ca dân tộc sẽ vĩnh viễn là một niềm… ƯỚC HẸN CÒN LƯA! Dòng nước Ví Giặm mang tên Nguyễn Tài Tuệ vẫn đang nghiêng xuống Cõi Người từng giọt yêu thương, trong trẻo và tĩnh lặng vô cùng...

Mênh mang. Và thao thiết biết bao nhiêu!

11 tháng Giêng Bính Ngọ

Hậu sinh Trương Công Tú kính lạy!


Bài: Đạo diễn Trương Công Tú
Thiết kế: Hoàng Bá

Thư viện Cử tri gửi ý kiến Gửi đơn KNTC

Trang chủ

Mới nhất

Quê mình xứ nghệ

Video

Thư viện

Gửi Ý kiến