Chuyển mạnh mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú cho rằng, để góp phần đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, Việt Nam phải chuyển hẳn mô hình tăng trưởng từ chiều rộng sang chiều sâu, lấy năng suất, tri thức, công nghệ, dữ liệu và chất lượng thể chế làmđộng lực trung tâm. Trong đó, cần nhấn mạnh vai trò của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP), đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D), hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Nhà nước kiến tạo như những nền tảng cốt lõi của mô hình tăng trưởng mới; đồng thời cần được lượng hóa mạnh hơn trong các chỉ tiêu và giải pháp thực hiện.

bo-truong-bo-nong-nghiep-va-moi-truong-trinh-viet-hungvqk_8365.jpg
Toàn cảnh phiên họp tại Hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Theo các số liệu hiện nay, đóng góp TFP của Việt Nam vẫn thấp hơn đáng kể so với các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc trong giai đoạn tăng trưởng cao tương ứng. Kết quả tăng trưởng TFP cơ bản đến từ đột phá thể chế và hiệu quả kỹ thuật của doanh nghiệp, còn tính kinh tế theo quy mô và tiến bộ công nghệ chưa đóng góp nhiều cho tăng trưởng TFP. Khoảng cách về năng lực đổi mới sáng tạo so với các nước phát triển vẫn rất lớn. Năng lực nội sinh hạn chế, xuất khẩu chủ yếu dựa vào FDI, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa thấp so với các quốc gia khác trên thế giới.

Từ đó, đối với nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2026 - 2030 trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề xuất các nhóm giải pháp trọng tâm.

Thứ nhất, tạo đột phá về thể chế. Theo đó, cần hoàn thiện thể chế theo hướng kiến tạo phát triển, tháo gỡ rào cản pháp lý, giảm tiền kiểm, tăng hậu kiểm; đổi mới cơ chế tài trợ khoa học theo đầu ra; chấp nhận cơ chế thí điểm có kiểm soát rủi ro và xây dựng sandbox cho các mô hình công nghệ mới.

Theo đại biểu, chính sách cần chuyển từ quản lý hành chính sang tạo không gian cho sáng tạo. Đồng thời, sớm hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách liên quan đến các vấn đề mới như đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, quỹ đầu tư mạo hiểm… Đây là điều kiện để khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo không còn là lĩnh vực phụ trợ, mà trở thành trục phát triển.

img_6056.jpeg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận. Ảnh: Quang Khánh

Thứ hai, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia. Đại biểu cho biết, bài học từ Hà Lan, Hàn Quốc và nhiều nền kinh tế cho thấy, muốn tạo đột phá phải xây dựng hệ sinh thái liên kết chặt giữa Nhà nước - viện nghiên cứu - trường đại học - doanh nghiệp.

Vì vậy, cần phát triển các cụm đổi mới sáng tạo, khu công nghệ cao, công viên khoa học, trung tâm đổi mới sáng tạo vùng, phòng thí nghiệm liên kết trọng điểm hỗ trợ nghiên cứu trong các lĩnh vực ưu tiên như AI, sinh học, vật liệu mới, năng lượng sạch.

ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đồng thời nhấn mạnh yêu cầu xác lập doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Theo đó, cần phát triển lực lượng doanh nghiệp nội địa lớn mạnh, có năng lực cạnh tranh và đổi mới, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường, xây dựng thương hiệu.

Cùng với đó, cần có chính sách đủ mạnh để hình thành doanh nghiệp công nghệ lớn của Việt Nam; đẩy mạnh liên kết cụm ngành và liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước nhằm nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, lan tỏa công nghệ và hình thành chuỗi giá trị nội địa vững chắc.

Thứ ba, tăng mạnh đầu tư cho R&D và đổi mới công nghệ. Dẫn kinh nghiệm quốc tế, đại biểu cho biết: Hàn Quốc đầu tư cho R&D ở mức trên 4,8% GDP và vươn lên nhóm dẫn đầu về đổi mới sáng tạo; Israel duy trì tỷ lệ R&D/GDP trên 5%, tạo nên hệ sinh thái khởi nghiệp có sức cạnh tranh toàn cầu.

Từ đó, đại biểu cho rằng. Việt Nam cần tăng đầu tư có trọng tâm cho R&D, các đề tài ưu tiên, hạ tầng nghiên cứu, quỹ khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực khoa học; đồng thời có chính sách ưu đãi đủ mạnh để doanh nghiệp tăng chi cho nghiên cứu, thử nghiệm và đổi mới công nghệ.

Đại biểu cũng đề nghị đổi mới cơ chế huy động vốn cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nguồn lực không chỉ trông vào ngân sách mà phải được thiết kế theo các kênh gồm ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp và vốn thị trường. Cùng với đó là phát triển các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ khởi nghiệp và thị trường vốn cho doanh nghiệp công nghệ.

img_6057.jpeg
Đại biểu Quốc hội tham dự phiên họp. Ảnh: Quang Khánh

Thứ tư, phát triển mạnh kinh tế số. Với mục tiêu kinh tế số đạt 30% GDP vào năm 2030, tăng hơn gấp đôi so với mức 14,02% hiện tại của năm 2025, trong đó kinh tế số lõi chiếm 8,42% và số hóa các ngành chiếm 5,6%, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú nhấn mạnh cần có kịch bản tăng trưởng kinh tế số để làm cơ sở tập trung nguồn lực và giải pháp.

Theo đại biểu, phải phát triển đồng thời kinh tế số lõi và kinh tế số hóa các ngành nhằm nâng cao hiệu quả và tạo giá trị mới cho nền kinh tế.

Thứ năm, ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài công nghệ và kỹ năng số. Đại biểu cho rằng, nhân lực là điều kiện tiên quyết; nếu không có đội ngũ nhà khoa học mạnh, kỹ sư giỏi, doanh nhân công nghệ và lao động số lành nghề thì không thể có nền kinh tế đổi mới sáng tạo.

Do đó, cần đầu tư mạnh cho đào tạo nhân lực số, AI, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới, an ninh mạng; đồng thời có cơ chế đặc thù để thu hút chuyên gia, nhân tài công nghệ trong và ngoài nước.

Thứ sáu, thực hiện chuyển đổi kép, tức chuyển đổi số đi cùng chuyển đổi xanh. Theo đại biểu, chuyển đổi số để nâng năng suất, hiệu quả, minh bạch; còn chuyển đổi xanh để bảo đảm tính bền vững, khả năng chống chịu và chất lượng sống.

Vì vậy, cần tái cấu trúc các ngành thâm dụng năng lượng; giảm dần các ngành tiêu hao nhiều năng lượng nhưng giá trị gia tăng thấp; khuyến khích doanh nghiệp ứng dụng công nghệ để giảm phát thải, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên; phát triển công nghiệp xanh, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo, logistics hiện đại và các ngành dịch vụ giá trị gia tăng cao.

img_6059.jpeg
Các ĐBQH tỉnh Nghệ An trao đổi bên hành lang kỳ họp

Đại biểu kiến nghị nghiên cứu bổ sung một số chương trình đột phá quốc gia về hạ tầng số xanh, logistics xanh, công nghiệp xanh, nông nghiệp xanh và đô thị xanh.

Mở không gian phát triển cho miền núi, vùng đồng bào DTTS từ lợi thế bản địa

Về liên kết phát triển vùng kinh tế, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú dẫn kinh nghiệm quốc tế cho biết OECD nhấn mạnh: Chính sách vùng hiệu quả không phải là dàn đều nguồn lực, mà là phát triển theo lợi thế riêng của từng địa phương, chọn đúng các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh, rồi gắn nghiên cứu, doanh nghiệp, đầu tư công và kỹ năng lao động vào một số ưu tiên hẹp nhưng đủ sâu. OECD cũng nhấn mạnh hợp tác liên vùng và liên biên giới là điều kiện quan trọng để vùng nâng năng suất và đổi mới sáng tạo.

Đại biểu cũng dẫn mô hình “thung lũng đổi mới khu vực” của Ủy ban châu Âu cho thấy, muốn thu hẹp chênh lệch phát triển và tạo tăng trưởng bền vững, cần xây dựng các mạng lưới đổi mới sáng tạo liên vùng, nơi các vùng có trình độ khác nhau cùng hợp tác quanh những thách thức chung như năng lượng, số hóa, y tế, kinh tế tuần hoàn.

img_6055.jpeg
Đoàn ĐBQH tỉnh Nghệ An tham dự phiên thảo luận tại Hội trường. Ảnh: Quang Khánh

Đối với vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung, đại biểu cho biết: Quy hoạch xác định rất rõ đây phải là vùng đi đầu về kinh tế biển; phát triển mạnh các ngành kinh tế biển, logistics, du lịch, năng lượng tái tạo, công nghiệp bán dẫn, sản xuất chip; hình thành các trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ mới như chip bán dẫn, AI, năng lượng sạch; phát triển các hành lang kinh tế Bắc - Nam và Đông - Tây để kết nối cảng biển, khu kinh tế, sân bay, cửa khẩu quốc tế và các cực tăng trưởng ven biển.

Tuy nhiên, theo ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú, vấn đề của vùng hiện nay là có nhiều lợi thế nhưng liên kết còn mỏng. Vì vậy, trong nhóm nhiệm vụ, giải pháp về liên kết vùng, đại biểu đề xuất bổ sung liên kết chuỗi ngành. Theo đó, vùng không nên phát triển theo kiểu địa phương nào cũng muốn làm trung tâm tổng hợp, mà phải phân vai với chức năng rõ ràng. Cần thiết lập các hành lang tăng trưởng, có danh mục dự án lõi, cơ chế phối hợp liên tỉnh; tập trung một số cụm động lực quy mô lớn, có cơ chế dùng chung hạ tầng logistics, kho bãi.

Đồng thời, đại biểu đề xuất hình thành mạng lưới đổi mới sáng tạo vùng, cơ chế điều phối các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp và địa phương trong toàn vùng để cùng làm các chương trình về công nghệ biển, logistics thông minh, AI ứng dụng trong du lịch - cảng biển - nông nghiệp, vật liệu mới, chế biến sâu, công nghệ dự báo thiên tai và bảo vệ bờ biển.

img_6058.jpeg
ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú phát biểu tại Tổ. Ảnh: Khánh Duy

Đối với vùng sâu, vùng xa và vùng đồng bào DTTS, ĐBQH Nguyễn Thị Minh Tú đề xuất tiếp cận theo hướng phát triển bao trùm, khai thác lợi thế bản địa để tạo sinh kế bền vững.

Từ các nghiên cứu khoa học và thực tiễn triển khai các nhiệm vụ khoa học, mô hình sinh kế ở vùng đồng bào DTTS, đại biểu đề xuất đối với vùng miền núi cần bổ sung định hướng nghiên cứu, tổ chức phát triển kinh tế dưới tán rừng; chuyển sang giá trị kinh tế dưới tán rừng và người dân cùng làm kinh tế dưới tán rừng.

Cùng với đó là khai thác các giá trị tri thức bản địa của đồng bào DTTS để phát triển sinh kế bền vững; nghiên cứu bổ sung chương trình đưa các sản phẩm khai thác từ tri thức bản địa của đồng bào DTTS ra thế giới, thổi hồn bản sắc văn hóa, tinh hoa tri thức của DTTS vào sản phẩm.

"Tấm hoa văn thổ cẩm người Thái, với hoa văn mang trong đó câu chuyện sâu sắc về văn hóa, thiên nhiên và tín ngưỡng, khi được liên kết với nhà thiết kế có thể được thổi hồn vào sản phẩm ứng dụng đương đại để mang tới triển lãm về thiết kế nội thất và trang trí nhà cửa tại Paris", đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú ví dụ.

img_6050.jpeg

Tôi thống nhất cao với báo cáo của Chính phủ, dự thảo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030 cùng các báo cáo thẩm tra, tiếp thu, giải trình ý kiến... Dự thảo thể hiện rõ tinh thần đổi mới, khát vọng phát triển và quyết tâm chính trị rất cao khi đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, tạo nền tảng để đất nước bứt phá trong giai đoạn phát triển mới.

ĐBQH NGUYỄN THỊ MINH TÚ (Nghệ An)