Cử tri cho biết, việc thực hiện theo quy định của Luật Đất đai năm 2024 gặp nhiều khó khăn do yêu cầu phải có giấy tờ hợp pháp chứng minh quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trên thực tế, người dân không còn lưu giữ được các giấy tờ cũ. Cử tri kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xem xét điều chỉnh quy định theo hướng linh hoạt, phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện hợp thức hóa đối với diện tích đất đã được sử dụng ổn định, lâu dài từ trước năm 1980.

UBND tỉnh trả lời như sau:

Thực hiện nhiệm vụ UBND tỉnh giao, Sở Nông nghiệp và Môi trường thông tin đến cử tri như sau:

1. Cơ sở pháp lý về xác định lại diện tích đất ở đối với đất có nguồn gốc sử dụng trước năm 1980

Tại điểm a khoản 6 Điều 141 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"6. Việc xác định lại diện tích đất ở của hộ gia đình, cá nhân trong trường hợp thửa đất ở có vườn, ao đã được cấp giấy chứng nhận trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 khi người sử dụng đất có nhu cầu hoặc khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện như sau:

a) Diện tích đất ở được xác định lại theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này nếu tại thời điểm cấp giấy chứng nhận trước đây có một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6 và 7 Điều 137 của Luật này mà không thuộc quy định tại khoản 4 Điều 137 của Luật này; người sử dụng đất không phải nộp tiền sử dụng đất đối với diện tích được xác định lại là đất ở.

Trường hợp người sử dụng đất đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất một phần diện tích đất ở của thửa đất hoặc Nhà nước đã thu hồi một phần diện tích đất ở của thửa đất thì khi xác định lại diện tích đất ở phải trừ đi phần diện tích đất ở đã chuyển quyền sử dụng đất hoặc thu hồi".

Tại khoản 1 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024 quy định các loại giấy tờ được lập trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 làm căn cứ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và không phải nộp tiền sử dụng đất, bao gồm nhiều loại giấy tờ khác nhau:

a) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

b) Giấy tờ về quyền sử dụng đất do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp như: Bằng khoán điền thổ; Văn tự đoạn mãi bất động sản; Văn tự mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế nhà ở gắn liền với đất ở có chứng nhận của cơ quan thuộc chế độ cũ; Bản di chúc hoặc giấy thỏa thuận tương phân di sản về nhà ở được cơ quan thuộc chế độ cũ chứng nhận; Giấy phép xây cất nhà ở; Giấy phép hợp thức hóa kiến trúc; Bản án của Tòa án thuộc chế độ cũ đã có hiệu lực;

c) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong Sổ đăng ký ruộng đất, Sổ địa chính;

*d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở, được UBND cấp xã xác nhận đã sử dụng đất trước ngày 15/10/1993;*

*đ) Sổ mục kê, sổ kiến điền lập trước ngày 18/12/1980 có tên người sử dụng đất;*

*e) Giấy tờ về đăng ký ruộng đất theo Chỉ thị số 299/TTg ngày 10/11/1980 của Thủ tướng Chính phủ do cơ quan nhà nước quản lý có tên người sử dụng đất;*

g) Giấy tờ về kê khai, đăng ký nhà cửa được UBND cấp xã, huyện, tỉnh xác nhận có ghi diện tích đất có nhà;

*h) Giấy tờ của đơn vị quốc phòng giao đất cho cán bộ, chiến sĩ làm nhà ở theo Chỉ thị số 282/CT-QP;*

i) Dự án, danh sách, văn bản về di dân xây dựng khu kinh tế mới, tái định cư được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt có tên người sử dụng đất;

k) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở, công trình; giấy tờ về xây dựng, sửa chữa nhà ở, công trình được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hoặc cho phép;

l) Giấy tờ tạm giao đất của UBND cấp huyện, tỉnh; Đơn đề nghị sử dụng đất được UBND cấp xã, hợp tác xã nông nghiệp phê duyệt trước ngày 01/7/1980 hoặc được UBND cấp huyện, tỉnh phê duyệt, chấp thuận;*

m) Giấy tờ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc giao đất cho cơ quan, tổ chức để bố trí cho cán bộ, công nhân viên tự làm nhà ở hoặc xây dựng nhà ở để phân hoặc cấp;

n) Giấy tờ khác về quyền sử dụng đất có trước ngày 15/10/1993 do UBND cấp tỉnh quy định phù hợp với thực tiễn địa phương.*

2. Quy định về xử lý trường hợp thất lạc giấy tờ gốc

Tại khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"Hộ gia đình, cá nhân có bản sao một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều này mà bản gốc giấy tờ đã bị thất lạc và cơ quan nhà nước không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp loại giấy tờ này, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng ổn định, không có tranh chấp thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật".

3. Đánh giá và giải pháp thực hiện

Như vậy, theo quy định tại khoản 7 Điều 137 Luật Đất đai năm 2024, trường hợp người dân không còn lưu giữ được bản gốc các giấy tờ và cơ quan nhà nước cũng không còn lưu giữ hồ sơ quản lý việc cấp các loại giấy tờ này, thì người dân có thể sử dụng bản sao các giấy tờ theo quy định. Khi có bản sao và được UBND cấp xã nơi có đất xác nhận việc sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp, người dân vẫn được xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Pháp luật đã có quy định linh hoạt để giải quyết các trường hợp thất lạc giấy tờ, tạo điều kiện cho người dân hợp thức hóa quyền sử dụng đất đối với diện tích đất đã được sử dụng ổn định, lâu dài từ trước năm 1980. Việc xác nhận của UBND cấp xã về tình trạng sử dụng đất ổn định, không tranh chấp là cơ sở quan trọng để thay thế cho các giấy tờ gốc đã thất lạc.

4. Giải pháp trong thời gian tới

UBND tỉnh giao Sở Nông nghiệp và Môi trường chủ trì, phối hợp với UBND các huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường liên quan tổ chức tuyên truyền, phổ biến rộng rãi các quy định của Luật Đất đai năm 2024, đặc biệt là các quy định về giấy tờ hợp pháp và thủ tục xác nhận của UBND cấp xã đối với trường hợp thất lạc giấy tờ gốc, giúp người dân hiểu rõ quyền lợi và trách nhiệm trong việc thực hiện thủ tục chuyển mục đích sử dụng đất.

Chỉ đạo UBND cấp xã tăng cường rà soát, xác nhận các trường hợp sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp theo đúng thẩm quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc hoàn thiện hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Đối với các vướng mắc phát sinh vượt thẩm quyền, tổng hợp báo cáo UBND tỉnh để có hướng dẫn, giải quyết kịp thời, bảo đảm quyền lợi chính đáng của người dân và sự ổn định trong công tác quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn.