Kế thừa tinh thần của Đại hội XIII, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (được công bố lấy ý kiến nhân dân ngày 15/10/2025) khẳng định nguyên tắc nhất quán trong quan hệ dân tộc ở Việt Nam là: “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển”.
Việc thay thế cụm từ “giúp nhau cùng phát triển” trong Văn kiện Đại hội XIII bằng “tương trợ cùng phát triển”, đồng thời tiếp tục sắp xếp “bình đẳng” đứng trước “đoàn kết” hàm chứa thông điệp chính trị rõ ràng: Nhấn mạnh vai trò chủ động, tự vươn lên của các dân tộc, gắn với việc vận dụng hiệu quả các nguồn lực hỗ trợ của nhà nước nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Trên nền tảng bình đẳng, khối đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường, tạo động lực quan trọng bảo đảm thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Từ chủ trương đến kết quả rõ nét
Trước Đại hội XIII, trong quan hệ dân tộc, Đảng ta xác định các dân tộc đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng, giúp nhau cùng phát triển. Từ Đại hội XIII đến nay, “bình đẳng” được đặt trước “đoàn kết”, thể hiện sự thay đổi chiều sâu trong chủ trương, đường lối của Đảng về đại đoàn kết dân tộc.
Thực tế cho thấy, 54 dân tộc ở nước ta (53 dân tộc thiểu số) có sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế - xã hội. Một khi còn có sự chênh lệch giữa các dân tộc thì vẫn còn kẽ hở cho các thế lực thù địch lợi dụng để chia rẽ, kích động.
Bởi vậy, bình đẳng dân tộc trước hết và trên hết là xây dựng, thực thi chính sách đầu tư, hỗ trợ nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các dân tộc ở Việt Nam. Chỉ có thực hiện được điều này mới có đoàn kết thực chất giữa các dân tộc.
Quán triệt đường lối của Đại hội XIII, các chương trình, chính sách đã được triển khai với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Với nguồn lực tập trung, theo nguyên tắc đầu tư trọng tâm, trọng điểm, nhiều vấn đề cấp bách trong đời sống kinh tế - xã hội ở địa bàn này đã được giải quyết căn cơ.
Báo cáo ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo về sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Báo cáo 3286) cho thấy, đến nay việc thực hiện 28 chỉ tiêu trong Chiến lược đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
“Cùng với cả nước, tình hình kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào không ngừng được cải thiện… Đồng bào các dân tộc tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước”, Báo cáo 3286 nhấn mạnh.
Tính đến trước thời điểm sáp nhập đơn vị hành chính, vận hành chính quyền địa phương 2 cấp, trong xây dựng nông thôn mới, cả nước có 237 xã khu vực III thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2025 về đích; 1.508 thôn, bản, ấp thuộc các xã đặc biệt khó khăn khu vực biên giới, vùng núi, vùng bãi ngang ven biển và hải đảo được công nhận đạt chuẩn.
Các thành tựu có tính chất nền tảng để tiếp tục thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền, dân tộc là giảm nghèo. Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2021-2025, tỷ lệ nghèo người dân tộc thiểu số giảm bình quân 4,45%/năm ; cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên.
Số liệu của Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, hết năm 2025, thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn đạt 58 triệu đồng/năm, ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đạt khoảng 46 triệu đồng/năm.
Tại hội nghị tổng kết công tác dân tộc, tôn giáo năm 2025 và nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 tổ chức ngày 14/1, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Thành Long khẳng định, những thành tựu trong thực hiện công tác dân tộc, tôn giáo đã góp phần quan trọng vào thành tựu phát triển chung của cả nước; đồng thời, không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết tôn giáo và niềm tin của đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo đối với Đảng và Nhà nước ta.
Kiên trì thu hẹp khoảng cách phát triển
Theo đại biểu Quốc hội Trần Thị Hoa Ry, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội, mặc dù đã có những bước tiến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi vẫn đang đối diện với 5 vấn đề trọng tâm.
“Khoảng cách phát triển ngày càng lớn giữa vùng dân tộc và vùng đô thị, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên, nguy cơ mai một bản sắc văn hoá truyền thống và tiềm ẩn yếu tố mất ổn định xã hội”, bà Hoa Ry cho biết.
Trước thực tế này, khi thảo luận tại tổ về Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng trong khuôn khổ kỳ họp thứ 10 (ngày 4/11/2025), đại biểu Trần Thị Hoa Ry cho rằng, Trung ương cần tổng kết toàn diện Nghị quyết 24-NQ/TW về công tác dân tộc (ban hành năm 2003) để tiếp tục hoàn thiện chính sách mới, phù hợp với bối cảnh và yêu cầu phát triển hiện nay.
"Những kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu, là nền móng. Thực tiễn còn nhiều vấn đề đang đặt ra, nhiều chính sách hiệu quả chưa cao, một số nội dung về thể chế, chuyển đổi số, cơ sở dữ liệu vẫn còn bất cập… Điều này đòi hỏi chúng ta phải đổi mới rất nhiều với tư duy mới, nhận thức mới, quyết tâm mới và hành động mới".
Đây cũng là nhận định của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trong Báo cáo 3286 ngày 31/12/2025. Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi hiện vẫn là khu vực khó khăn nhất trên cả nước.
“Tỷ lệ hộ nghèo, hộ cận nghèo trong đồng bào DTTS còn cao, kết quả giảm nghèo chưa thực sự bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao; chênh lệch về thu nhập và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi so với mặt bằng chung còn lớn”, Báo cáo 3286 đánh giá.
Những điểm nghẽn này được Đảng ta đánh giá sâu sắc trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV. Trong đó, Đảng ta đặc biệt lưu ý: "Sự phân hóa giàu - nghèo, bất bình đẳng xã hội có xu hướng gia tăng. Hạ tầng giao thông, điện, nước ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn".
Với mục tiêu bảo đảm công bằng xã hội, “không ai bị bỏ lại phía sau”, trong quan hệ dân tộc, kế thừa quan điểm của Đại hội XIII, Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV khẳng định “Bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển”. Đây sẽ là kim chỉ nam định hướng xây dựng chính sách dân tộc trong giai đoạn tới.
Khơi dậy nội lực là “đòn bẩy”
Một điểm mới trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV khi xác định quan hệ dân tộc là “tương trợ cùng phát triển” (Văn kiện Đại hội XIII xác định “giúp nhau cùng phát triển”). Điều chỉnh này nhằm nhấn mạnh sự chủ động của đồng bào các dân tộc, nguồn đầu tư, hỗ trợ là có điều kiện, dựa trên thế mạnh và nhu cầu cụ thể giữa các vùng, các dân tộc để cùng phát triển bền vững.
Đây là sự cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo xây dựng, phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Trong Dự thảo Văn kiện Đại hội XIV, Đảng ta xác định quan điểm: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự cường, tự hào dân tộc, phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực cho phát triển bền vững”.
Trong Văn kiện Đại hội XIII, để thu hẹp khoảng cách phát triển, Đảng ta xác định huy động phân bổ, sử dụng, quản lý hiệu quả các nguồn lực để đầu tư phát triển, tạo sự chuyển biến căn bản về kinh tế, văn hoá, xã hội ở vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số.
Đặc biệt, Văn kiện Đại hội XIII yêu cầu: “Chú trọng tính đặc thù của từng vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách dân tộc. Có cơ chế thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện giảm nghèo đa chiều bền vững”.
Quán triệt quan điểm chỉ đạo của Đại hội Đảng lần thứ XIII, trong 5 năm qua, nhiều chương trình, chính sách triển khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã chuyển từ “cho không” sang hỗ trợ có điều kiện. Minh chứng rõ nét là chính sách tín dụng ưu đãi, theo báo cáo của Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, hết năm 2025, toàn hệ thống có gần 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách được thụ hưởng, với tổng dư nợ tín dụng đạt 413.527 tỷ đồng.
Từ Đại hội XIII đến Đại hội XIV, có thể khẳng định, việc lấy bình đẳng trong phát triển làm nền tảng của đại đoàn kết dân tộc không chỉ là sự điều chỉnh về mặt khái niệm, mà là bước phát triển mới về tư duy và hành động của Đảng trong giai đoạn hiện nay. Khoảng cách phát triển từng bước được thu hẹp, đồng bào các dân tộc được trao động lực để vươn lên, đó là con đường để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tạo nền tảng vững chắc cho phát triển nhanh, bền vững.



